tim nha tro o ha noi | tim nha tro o tphcm | sac laptop | pin laptop

Thứ Tư, 23/05/2012

064.362.7935 (VT)

Chinese Vietnamese

Thứ sáu, 17 Tháng 2 2012 00:04
PDF. In Email

Chan_May_Lang_co1329465263_340x250Sáng 17/2, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Hội nghị tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) và khu kinh tế (KKT), nhằm đánh giá toàn diện kết quả, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân để xây dựng định hướng trong giai đoạn mới, đóng góp hiệu quả hơn cho nền kinh tế.

 

Sau 20 năm phát triển, hệ thống các KCN, KCX đã có ở hầu hết các tỉnh, thành phố, trở thành các trọng điểm thu hút, góp phần quan trọng nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bên cạnh đó, các KCN, KCX hiện là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới với đa dạng sản phẩm xuất khẩu ra thị trường toàn cầu, qua đó góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ địa kinh tế thế giới.

 

Tính đến tháng 12/2011, Việt Nam có 283 KCN, KCX trên 58 tỉnh và thành phố với tổng diện tích 76.000 ha, trong đó diện tích có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 61% tổng diện tích đất tự nhiên. Các KCN được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh tế, tiềm năng của các vùng kinh tế trọng điểm, tạo điều kiện cho ngành công nghiệp địa phương từng bước phát triển

 

Theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) và Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã được Quốc hội khóa VIII phê duyệt, tổng diện tích đất KCN, KCX đến năm 2015 là 130.000 ha và đến năm 2020 là 200.000 ha.

 

Tính đến cuối tháng 12/2011, các KCN, KCX đã thu hút được 4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 59,6 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27 tỷ USD. Hàng năm, vốn FDI vào KCN, KCX chiếm từ 35-40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80% tổng FDI vào ngành công nghiệp cả nước.

 

Riêng năm 2011, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 6,5 tỷ USD (44% vốn đăng ký cả nước), thực hiện đạt 7,3 tỷ USD (67% tổng vốn FDI thực hiện cả nước).

 

Ngoài thu hút vốn FDI, KCN, KCX là một giải pháp để thực hiện chủ trương phát huy nội lực. Riêng giai đoạn 2006-2010, KCN và KCX thu hút được 2.010 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn là 218.860 tỷ đồng. Đến tháng 12/2011, KCN, KCX có 4.681 dự án trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 420 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 210 nghìn tỷ đồng. Đặc biệt, từ năm 2004, số dự án trong nước còn hiệu lực đầu tư vào các KCN, KCX đã vượt số dự án đầu tư nước ngoài.

 

KCN, KCX đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

 

Giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX trong thời kỳ 2006-2010 đạt khoảng 125 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm, cao hơn mức tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân cả nước, tỷ trọng tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước tăng từ 8% năm 1996 lên 32% vào năm 2010.

 

Sức cạnh tranh của các DN trong các KCN, KCX trên thị trường thế giới được nâng cao đáng kể, thể hiện ở giá trị xuất khẩu tăng đều kể từ năm 1996. Riêng giai đoạn 2006-2010, các KCN, KCX xuất khẩu 63,7 tỷ USD, tăng bình quân khoảng 32%/năm, trong khi tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước (17,2%/năm). Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN, KCX trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã tăng lên từ mức khoảng 15% năm 2000 lên 25% năm 2010.

 

Năm 2011, tính bình quân, các KCN đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp 2 triệu USD/ha, giá trị xuất khẩu 1,27 triệu USD/ha, nộp ngân sách 1,38 tỷ đồng/ha, 77 lao động trực tiếp/ha.

 

Khu kinh tế xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu mô hình phát triển mới, tạo đột phá cho kinh tế vùng, khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và thí điểm những thể chế, chính sách kinh tế mới, nhằm huy động tối đa nguồn nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

 

Theo quy hoạch đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 18 KKT ven biển với tổng diện tích mặt đất và mặt nước 730.553 ha,bằng khoảng 2,2% tổng diện tích cả nước. Đến năm 2011, Việt Nam đã có 15 KKT ven biển được thành lập với tổng diện tích 662.249 ha, trong đó 10% diện tích đất phục vụ trực tiếp cho sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thương mại.

 

Đến nay, các KKT ven biển đã thu hút được hơn 31 tỷ USD vốn FDI và gần 564 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước, tổng diện tích đất đã cho thuê trên 20.000 ha. Trong đó, một số dự án lớn hứa hẹn mang lại thế và lực cho các ngành công nghiệp nặng Việt Nam như nhà máy lọc dầu Dung Quất, liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương, nhà máy cơ khí nặng Doosan, nhiệt điện Nghi Sơn và Vũng Áng, cảng trung chuyển Vân Phong... Các KKT ven biển mặc dù được thành lập chưa lâu, nhưng đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế. Riêng trong năm 2011, các KKT ven biển đạt tổng doanh thu khoảng 8 tỷ đô la Mỹ, xuất khẩu hơn 1 tỷ USD, nộp ngân sách gần 20 nghìn tỷ đồng.

 

Bên cạnh mô hình KKT ven biển, đến nay Việt Nam đã có 28 KKT cửa khẩu với tổng diện tích hơn 600 nghìn ha, đã mang lại tác động tích cực và làm tăng vị thế của các tỉnh có KKT cửa khẩu, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp.

 

Trong giai đoạn 2006-2010, tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu qua KKT cửa khẩu đều đạt trên 25%, cao hơn nhiều so với tăng trưởng xuất nhập khẩu chung cả nước. Kim ngạch xuất nhập khẩu qua các KKT cửa khẩu tăng trưởng khá, năm 2010 đạt hơn 5,4 tỷ USD (trong đó xuất khẩu đạt 2,93 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2005).

 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, phát triển KCN, KCX, KKT vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về quy hoạch chưa sát với tiềm năng địa phương, kết cấu hạ tầng yếu kém, chưa định hướng được thu hút các ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh, hàm lượng công nghệ và nhất là chưa tạo được sự liên kết vùng. Bên cạnh đó là hạn chế về cơ chế chính sách, chưa hoàn thiện khiến KCN, KCX, KKT chưa phát huy hết tiềm năng vàthực sự là động lực phát triển kinh tế, đầu mối liên kết và hội nhập quan trọng của kinh tế Việt Nam.

 

Doanh Chính

Nguồn baocongthuong

Thời tiết

Giá vàng 9999
ĐVT: tr.đ/lượng

Tỷ Giá
ĐVT: VNđ
  • TC

    Giá

    KL

    +/-

Trang Chủ | Tin Tức | Danh Bạ | Thương Mại | Thương Mại Quốc Tế | Xuất Nhập Khẩu | Thống Kê | Thị Trường | Chứng Khoán | Rao Vặt
Trang Chủ | Giới Thiệu | Dịch Vụ | Liên Hệ