Van Thinh PhatVTP Grouplotte centre|lotte center

Thứ Tư, 17/09/2014
064.362.7935 (VT)  
Chinese Vietnamese

Thị trường phân phối dược Việt Nam

Chủ Nhật, 29/01/2012 00:00
PDF. Print. Print.

duocphamTrước đây, không có nhiều sản phẩm thuốc được tung ra thị trường, cho nên "ai có hàng, người đó có quyền" và có thể tự bán. Nhưng hiện nay số lượng thuốc từ các nhà sản xuất đã tăng lên đáng kể.

 

Ba năm trở lại đây, mỗi năm có khoảng 2.000 loại thuốc mới đăng ký và được cấp phép đăng ký lưu hành, trong khi năm 2003, chỉ có khoảng 700 sản phẩm mới được đăng ký. Do đó, người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn. Lúc này, các nhà phân phối, với vai trò là trung gian nhận và cung cấp hàng đến tay người tiêu dùng, đã có tác động đáng kể đến quyết định bán cho ai, bán cái gì và giá như thế nào?

 

Theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam, từ 1.1.2009, các doanh nghiệp nước ngoài được quyền nhập khẩu trực tiếp. Do vậy, mô hình đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng, cũng thay đổi. Trước đây, mô hình liên kết này có dạng như sau: nhà sản xuất (nước ngoài) - nhà phân phối (nước ngoài) - nhà nhập khẩu ủy thác (tại Việt Nam) - nhà phân phối sỉ (tại Việt Nam) - nhà phân phối lẻ (tại Việt Nam). Hiện tại, quy trình đã được rút ngắn, lược bỏ khâu "nhà phân phối nước ngoài" nhằm tiết giảm chi phí.

 

Phân phối thì có 2 mảng: phân phối sỉ và phân phối lẻ. Trước hết, ở "mặt trận" phân phối sỉ, hiện cả "nội" lẫn "ngoại" đều đã đẩy mạnh việc khai thác thị trường.

 

Phân phối sỉ: nước ngoài "làm mưa làm gió"

 

Theo một số báo cáo, 3 gương mặt nhà phân phối sỉ lớn tại Việt Nam Zuellig Pharma (Thụy Sĩ), Mega Products (Thái Lan), Diethelm Vietnam đã nắm giữ đến khoảng 40% thị phần (xin nói thêm, dù Diethelm Vietnam được xem là nhà phân phối sỉ hoàn toàn nhưng trên thực tế, hậu cần - kho dược phẩm, giao vận - mới là mảng kinh doanh chính của họ). Trong khi đó, 304 nhà phân phối nước ngoài sỉ khác đang hiện diện tại Việt Nam cùng với khoảng 897 nhà phân phối trong nước đang chiếm thị phần còn lại.

 

Đa phần sản phẩm do các nhà phân phối sỉ nước ngoài cung ứng được nhập ngoại nên ở khâu này, nhà phân phối sỉ trong nước khó có thể cạnh tranh được. Nguyên nhân là hầu hết các nhà phân phối sỉ nước ngoài này đều đã có mối quan hệ với các nhà sản xuất nước ngoài. Hơn nữa, ngay chính bản thân các nhà sản xuất lớn như GlaxoSmithKline cũng mong muốn giao quyền phân phối cho các công ty phân phối uy tín và có mạng lưới đa quốc gia.

 

Chính vì thế, các nhà phân phối sỉ nước ngoài tại Việt Nam thực sự "sống khỏe". Ông Bạch Văn Mừng, Cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh, cho biết, doanh số của những công ty phân phối nước ngoài đạt từ 100 tỉ đồng đến 1.000 tỉ đồng. Một con số đẹp mà bất kỳ nhà phân phối nào cũng mơ ước.

 

Trong khi đó, "đấu" với 3 nhà phân phối sỉ nước ngoài trên là 6 nhà phân phối sỉ nội địa lớn: Công ty Dược phẩm TW I, II, Đông Á, Đô Thành, IC Việt Nam, ATM Pharma. Có thể đơn cử trường hợp nổi bật là Công ty Dược phẩm Trung Ương II (Codupha). Hiện tại, chiến lược lớn nhất mà công ty này đã thực hiện xong là thiết lập một hệ thống kho bãi, cửa hàng tại 59/64 tỉnh, thành phố. Như một quy luật, câu chuyện phân phối tạo được độ bao phủ rộng không phải là điều dễ dàng. Và với đặc điểm địa hình của Việt Nam, các công ty đa quốc gia phải mất khá nhiều thời gian và am hiểu thị trường nhiều hơn mới có thể mở rộng miếng bánh thị phần. Và đây dường như là lợi thế chính của các công ty Việt Nam.

 

Phân phối lẻ: chưa có thủ lĩnh

 

Đối với mảng phân phối lẻ, vì theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài được quyền nhập khẩu trực tiếp nhưng không được quyền phân phối bán lẻ dược phẩm ra thị trường (cam kết vĩnh viễn) nên ở mảng phân phối này, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn "một mình một sân".

 

Cục diện phân phối lẻ có thể được chia ra thành 3 nhóm: nhà sản xuất có thực hiện phân phối, chuỗi nhà thuốc và các nhà thuốc lẻ tư nhân.

 

Hiện tại, theo ông Lê Chánh Đạo, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang, chiết khấu chung của các nhà sản xuất dành cho các nhà phân phối thường dựa vào từng sản phẩm một. Theo đó, mức này dao động và không vượt quá 20% doanh thu. Các công ty sản xuất nước ngoài thì có chiết khấu cao hơn (chủ yếu dành cho thị trường OTC, còn đối với hệ thống điều trị, mức chiết khấu thật sự vẫn còn là "một con số bí ẩn").

 

Tuy nhiên, để chủ động được khâu bán hàng và hạn chế được việc chia sẻ cho các nhà phân phối, các công ty sản xuất trong nước thường phát triển thêm khâu phân phối của mình. Điển hình là Dược Hậu Giang. Hiện tại, hệ thống phân phối của công ty này có khoảng 40 điểm. Ngoài ra, Dược Hậu Giang cũng đang thực hiện chiến lược mua lại hoặc liên kết với các công ty nhỏ khác của địa phương để mở rộng hệ thống bán hàng. Imexpharm cũng đã nâng sự hiện diện của họ tại các hệ thống điều trị với 55% doanh thu mang về và đang chiếm 4% thị phần phân phối lẻ.

 

Theo thống kê của Sở Y tế TP.HCM (tính đến ngày 9.9.2009), chuỗi nhà thuốc của doanh nghiệp đạt chuẩn của Bộ Y tế đang ở mức 55 chuỗi, trong đó, nhiều chuỗi đã khẳng định vị thế tên tuổi của mình như V-Phano (Công ty Cổ phần Dược phẩm Phano, Tân Bình), chuỗi nhà thuốc ECO (Công ty Cổ phần Dược phẩm ECO), chuỗi nhà thuốc Đông Dương (Công ty Cổ phần Nhà thuốc Đông Dương), chuỗi nhà thuốc Sapharco (Công ty Cổ phần Dược phẩm Sapharco), chuỗi nhà thuốc Mỹ Châu.

 

Tuy nhiên, nhìn toàn cảnh ở Việt Nam, chưa có doanh nghiệp nào có thể phát triển chuỗi nhà thuốc lên đến 50 cửa hàng. Trong khi đó, tại Philippines, để chiếm được 60% doanh thu của thị trường tại nước này, Tập đoàn Dược phẩm Mercury (sở hữu chuỗi nhà thuốc Mercury) hiện đã bành trướng chuỗi này lên đến con số 700 nhà thuốc. Và tập đoàn này đã phải trải qua một thời gian khá dài trong suốt 64 năm để xây dựng và phát triển hệ thống, cũng như liên tục thay đổi chiến lược của mình theo từng thời điểm. Theo đó, ngoài chuỗi nhà thuốc độc lập, Tập đoàn này còn lập ra những cửa hàng lớn khác mang tên Mercury Drug SuperStores bán các mặt hàng chuyên về dược cũng như các mặt hàng tiện lợi khác.

 

Ngoài ra, một dạng phân phối khác cũng đã xuất hiện tại các nước nhưng còn mới lạ đối với Việt Nam, đó là phân phối thuốc trong các siêu thị (cụ thể, các siêu thị trên thế giới đều có một khu vực dành riêng cho các sản phẩm không kê toa). Bởi trên thực tế, Việt Nam chỉ mới phát triển chuỗi bán hàng trong vài năm trở lại đây (quy mô và độ phủ còn nhỏ, hầu hết tập trung ở Hà Nội và TP.HCM).

 

Dù vậy, Tổng Giám đốc Công ty GlaxoSmithKline, ông Claus Jepsen vẫn nhận xét: "Việc các nhà sản xuất làm cả sản xuất lẫn phân phối dẫn đến vấn đề cạnh tranh không công bằng do hệ thống này chắc chắn sẽ ưu tiên cho sản phẩm của mình hơn là sản phẩm của các công ty cùng ngành".

 

Do hiện tại, quy định về nhà thuốc đạt chuẩn GPP vẫn còn chưa chốt thời hạn cuối cùng (trước đây, quy định thời hạn là đến cuối năm 2008 nhưng thông tin mới nhất cho biết, thời hạn này kéo dài đến năm 2013). Vì thế, với số lượng có hạn, các nhà phân phối lẻ theo dạng chuỗi sẽ khó lòng cạnh tranh với gần 40.000 cửa hàng thuốc trên thị trường.

 

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ngành công nghiệp dược Việt Nam hiện phát triển ở mức 2,5-3 trên thang phân loại theo 4 cấp độ:

 

Cấp độ 1: hầu như không sản xuất được, hoàn toàn nhập khẩu.

 

Cấp độ 2: sản xuất được một số thuốc gốc, đa số phải nhập khẩu.

 

Cấp độ 3: có công nghiệp dược nội địa sản xuất thuốc gốc và xuất khẩu được một số dược phẩm.

 

Cấp độ 4: sản xuất được nguyên liệu và phát minh ra thuốc mới.

 

Một số tiêu chuẩn trong ngành dược

 

GMP (good manufacturing practice):Thực hành tốt sản xuất

 

GLP (good laborary practice): Thực hành tốt phòng thí nghiệm

 

GSP (good storage practice): Thực hành tốt bảo quản

 

GDP (good dispensing practice): Thực hành tốt cung ứng thuốc

 

GPP (good pharmacy practice): Thực hành tốt phân phối thuốc

 

Thuốc generic (thuốc đồng dạng hay thuốc phiên bản) là loại thuốc có đặc tính sinh học tương đương với thuốc gốc, được sản xuất hợp pháp khi thuốc gốc đã hết thời hạn bản quyền (hiện tại là 15 năm).

 

Hệ thống phân phối OTC: là các nhà thuốc bán lẻ, chủ yếu bán các loại thuốc không kê đơn.

 

Hệ thống phân phối ETC: là các bệnh viện và trung tâm y tế, chủ yếu bán thuốc kê toa

 

 

 

(Theo nhipcaudautu)

Trang Chủ | Giới Thiệu | Dịch Vụ | Liên Hệ